“Những kẻ xuất chúng – Outliers”

Thực sự là một quyển sách hay, và đúng như phần tagline của bên ngoài bìa sách “cái nhìn mới lạ về nguồn gốc của thành công”, nội dung quyển sách mang đến cho người đọc những thông tin thú vị về những yếu tố giúp cho một người thành công.

Trước khi đọc mình đã nghĩ là chắc sẽ có những thông tin mà mình đã biết đâu đó rồi (vì có thể mình đã đọc những bài viết mà ai đó đã đọc sách này rồi và chia sẻ lại (nhưng không đầy đủ)) nhưng khi tự mình đọc sách mới thấy cụ thể hơn cũng như có cái nhìn tổng quan hơn về nguồn gốc thành công thông qua các quan sát, phân tích rất logic, hay ho và thú vị của tác giả. (Cho nên mình đã tự dặn mình, và cũng là khuyên các bạn, nhất định nên “tự mình đọc” những quyển sách mà được recommend hoặc nằm trong best seller list vì dù có nghe ai nói hay chia sẻ thế nào thì cũng đã là qua một lăng kính là góc nhìn của họ, họ sẽ chọn những điều mà họ thấy thích thú để chia sẻ, trong khi nếu bản thân mình đọc thì mình sẽ còn khám phá ra những điều thú vị khác từ góc nhìn và kinh nghiệm của chính bản thân mình).

Khi đọc sách, đoạn đầu tiên gây ấn tượng cho mình chính là đoạn này: “Con người ta không vươn lên từ chỗ hoàn toàn trắng trơn. Chúng ta vẫn thừa hưởng ít nhiều gì đó từ dòng dõi gia đình hoặc sự bảo trợ. Những người thành công trông có vẻ tự thân làm lụng mọi điều. Nhưng trên thực tế, họ luôn vẫn là kẻ thụ hưởng những lợi thế ẩn giấu và những cơ may phi thường cũng như những di sản văn hóa cho phép họ học hành, làm việc chăm chỉ và nhìn nhận về thế giới bằng những cách thức mà kẻ khác không thể. Việc chúng ta sinh trưởng ở đâu và khi nào rõ ràng làm nên những điều khác biệt. Nền văn hóa mà chúng ta thuộc về và những di sản do ông bà tổ tiên để lại đã định hình những khuôn mẫu thành công bằng những cách thức mà chúng ta không tài nào tưởng tượng nổi. Nói cách khác, sẽ không đầy đủ nếu chúng ta chỉ biết hỏi xem những người thành công có đặc điểm như thế nào. Chỉ thông qua việc hỏi xem họ xuất thân từ đâu chúng ta mới có thể làm sáng tỏ những logic đằng sau việc một số người thành công còn người khác thì không.” Sau khi đọc xong cuốn sách thì mình mới nhận ra rằng đây là đoạn có tính chất khái quát hóa nhất các luận điểm về nguồn gốc thành công mà tác giả đang muốn trình bày. Và toàn bộ cuốn sách là quá trình tác giả đưa ra những quan sát, đặt vấn đề, đi tìm câu trả lời, từ đó chứng minh luận điểm trên.

Có một điều mà mình thấy hay ho nữa ở quyển sách này là: tác giả Malcolm Gladwell không phải là một chuyên gia/ nhà khoa học về một (hoặc một vài) lĩnh vực (ví dụ như có nhiều sách của các tác giả chuyên về giáo dục học, thần kinh học, kinh doanh, lãnh đạo,…) còn Malcolm là một nhà báo chủ yếu về lĩnh vực xã hội học, tâm lý học và tâm lý xã hội và ông đã vận dụng những kiến thức cần có trong công việc (đó là việc đọc các nghiên cứu thuộc các lĩnh vực trên) cùng với cách nhìn của một người đứng ngoài chuyên ngành và nghiệp vụ của một nhà báo để tổng hợp, kết nối những kiến thức chuyên ngành đó một cách khá chuyên sâu để giải thích cho những hiện tượng khác, mang đến một góc nhìn khác khá thú vị cho người đọc.

Cuốn sách này có thể dành cho những ai quan tâm muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc của thành công và phương pháp đạt được điều đó, và nó cũng dành cho những người làm cha mẹ, những nhà giáo dục để họ hiểu thêm được vai trò của các yếu tố như gia đình, môi trường, di truyền, di sản… ảnh hưởng đến sự phát triển tài năng của một ai đó như thế nào để họ có thể có những điều chỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho những tài năng đó phát triển.

Qua cuốn sách, mình được biết đến một số khái niệm, kiến thức thú vị như:

1. Hiệu ứng Matthew (Matthew Effects – khái niệm được đưa ra bởi nhà xã hội học Robert Merton): “Hiệu ứng Matthew” (Matthew Effects) được gọi “dựa theo bài Tân ước trong “Lời dạy” của Matthew: “Vì phàm ai đã có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi”. Chính những người vốn đã thành công, nói cách khác, những người có nhiều khả năng nhất sẽ nhận được những loại cơ may đặc biệt nhất để dẫn tới thành công hơn nữa. Chính những người giàu sẽ nhận được những khoản cắt giảm thuế kếch xù nhất. Chính những sinh viên giỏi giang nhất sẽ có được sự dạy dỗ tốt nhất và được chú ý nhiều nhất. Và chính những em nhỏ ở lứa tuổi chín hay mười cừ nhất sẽ có được sự huấn luyện, điều kiện tập luyện tốt nhất. Thành công chính là kết quả của cái mà các nhà xã hội học gọi tên là “ưu thế tích tụ”. [Trộm nghĩ, liệu điều này có thể giải thích cho câu “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” của Việt Nam không nhỉ?]

2. Quy tắc mười nghìn giờ (10,000 hours rule – quy tắc được gọi tên dựa trên kết quả nghiên cứu của nhà tâm lý học Thụy Điển K. Anders Ericsson )10.000 giờ luyện tập là đòi hỏi bắt buộc để đạt được cấp độ tinh thông và khả năng trở thành một chuyên gia đẳng cấp thế giới – trong bất kỳ lĩnh vực nào”. (…) “Nhưng lại bất khả thi để đạt tới con số đó một thân một mình cho tới tận khi bạn là một người trưởng thành trẻ tuổi. Bạn phải được bố mẹ khuyến khích và hỗ trợ bạn. Bạn không thể nghèo túng, bởi nếu bạn phải giữ rịt một công việc bán thời gian bên mình để kiếm kế sinh nhai, sẽ không còn đủ thời gian trong ngày để luyện tập cho đầy đủ. Trên thực tế, hầu hết mọi người có thể đạt tới con số đó chỉ khi họ tham gia vào loại chương trình đặc biệt nào đó – như là một đội tuyển toàn sao môn khúc côn cầu – hoặc giả nếu họ có được một vận may phi thường nào đó mang lại cho họ cơ hội đạt được từng nấy tiếng đồng hồ.” [Qua đây có thể thấy được vai trò của việc được động viên khuyến khích, được tạo cơ hội để luyện tập, có thời gian luyện tập và sự chăm chỉ luyện tập góp vai trò quan trọng thế nào đối với sự thành công của một người. Đây cũng là điều mà mình nghĩ các bậc cha mẹ cần lưu ý trong quá trình nuôi dạy con]

Ngoài ra, trong khi tìm hiểu thêm về quy tắc mười nghìn giờ thì mình lại thấy một bài viết Nghiên cứu mới đập tan quy tắc 10,000 giờ của Malcolm Gladwell khá thú vị. Thật ra tựa đề hơi “giật tít” thôi chứ không phải là “destroy” quy tắc này mà là bổ sung thêm thông tin để người đọc thấy rằng quy tắc đó vẫn quan trọng nhưng ít quan trọng hơn so với những gì người ta vẫn tranh luận trước đó. Mà thật ra thì trong quyển Outliers này tác giả cũng nói đến cả các yếu tố khác góp phần vào thành công của một người chứ đâu phải chỉ nhấn mạnh mỗi quy tắc mười nghìn giờ này đâu.

3. Thời đại: “Tính khả thi cần thiết để có được thành công không chỉ đến từ bên trong mỗi người hay từ cha mẹ chúng ta. Nó còn có nguồn gốc từ thời đại của chúng ta: từ những cơ may đặc biệt mà một nơi chốn đặc biệt nào đó trong lịch sử trao tặng cho chúng ta. Với một chàng trai trẻ sẽ trở thành luật gia tương lai, ra đời hồi đầu những năm 1930 chính là thời điểm thần diệu, cũng hệt như việc ra đời vào năm 1955 là món quà dành cho một lập trình viên phần mềm, hoặc ra đời vào năm 1835 là cơ hội cho một nhà thầu khoán” [tuy nhiên mình nghĩ cũng phải xét việc những người được sinh ra đời trong những thời điểm này là họ được sinh ra trong bối cảnh nước Mỹ hoặc trong các nền kinh tế lớn – nơi mà ví dụ những năm 1975 là thời điểm bùng nổ công nghệ thông tin và máy tính để họ (Bill Joy, Bill Gates, Steve Jobs) – những con người độ tuổi 20 trẻ trung – có thể có cơ hội được luyện tập cho đến khoảng 10,000 giờ và có đủ sự trẻ trung, năng động cũng như nhiệt huyết để khởi nghiệp. Chứ nếu sinh ra ở Việt Nam trong những khoảng năm 1955 thì lúc đó Việt Nam còn đang chiến tranh thì làm sao mà một người sinh thời điểm này có cơ hội trở thành lập trình viên chứ? Bởi vậy mới nói “thời thế tạo anh hùng”]

4. Hiệu ứng của ngưỡng: “Mối quan hệ giữa thành công và IQ chỉ có tác dụng đến một ngưỡng nào đó mà thôi. Khi người nào đó đã đạt mức IQ vào khoảng 120 điểm thì có thêm vài điểm IQ phụ trội nữa dường như cũng chẳng chuyển hóa thành bất cứ ưu thế nào đó đếm được trong cuộc sống thực tế”. Điểm này rất thú vị vì nó sẽ giúp cho những người không có chỉ số IQ xuất sắc cảm thấy tự tin hơn bởi IQ không liên quan nhiều đến thành công, nghĩa là họ vẫn có cơ hội để cố gắng và thành công.

5. Trí thông minh thực tiễn (practical intelligence – khái niệm được đưa ra bởi nhà tâm lý học Robert Sternberg): “Đối với Sternberg, trí thông minh thực tiễn bao gồm “biết nói điều gì với ai, biết khi nào thì nói, và nói ra sao để đặt được hiệu quả tối đa”. Nó mang tính quy trình: tự biết làm một điều gì đó như thế nào mà không cần thiết phải hiểu xem tại sao bạn lại biết hoặc đủ khả năng giải thích điều đó. Đó không phải là sự hiểu biết vì mục đích kiến thức mà là nắm được bản chất sự việc. Sự hiểu biết khiến bạn có thể nắm bắt được chính xác yêu cầu tình huống và cách thức đạt được thứ mình muốn. Tóm lại đó là thứ trí thông minh tách rời khỏi năng lực phân tích được đo lường bằng chỉ số IQ. (…) Ở mức độ nào đó, IQ chính là thứ thước đo năng lực thiên phú. Nhưng thái độ khôn ngoan trong ứng cử với xã hội lại là một loại kiến thức. Đó là một bộ kỹ năng buộc người ta phải học. Nó phải bắt nguồn từ đâu đó, và gia đình dường như là nơi chúng ta học được những thái độ và kỹ năng như thế”. Sau đó tác giả có đưa người đọc đến các thí nghiệm, khảo sát và phân tích của các nhà xã hội học, tâm lý học khác để từ đó thấy rằng chính việc chúng ta được nuôi dạy trong một môi trường gia đình như thế nào, cha mẹ dạy chúng ta theo phong cách nào – phong cách “nuôi dạy có tính toán (concerted cultivation)” hay “thực hiện trưởng thành tự nhiên (natural growth)” – sẽ có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển trí thông minh thực tiễn của chúng ta.

6. Phong cách “nuôi dạy con có tính toán” (concerted cultivation – khái niệm đưa ra bởi nhà xã hội học Annette Patricia Lareau)“Các cha mẹ trung lưu trò chuyện đến nơi đến chốn với con cái, lập luận và phân tích với chúng. Họ không đơn thuần ra mệnh lệnh. Họ mong đợi con cái trò chuyện với họ, để đàm phán, để đặt câu hỏi với những người lớn ở vai trò của người có thẩm quyền”. (…) Lareau gọi phong cách nuôi nấng con cái của tầng lớp trung lưu là “nuôi dạy có tính toán”. Đó là nỗ lực chủ động bồi dưỡng và ước định tài năng, quan điểm và kỹ năng của một đứa trẻ. (…) Xét về khía cạnh thực tế, việc nuôi dạy có tính toán lại có những ưu thế rất lớn”. [Mình tự hỏi, các phương pháp dạy trẻ như Montessori, Glenn Doman, Shichida… liệu có phải là những phương pháp nuôi dạy có tính toán không nhỉ, bởi cơ bản các phương pháp đó đều hướng tới khai phá, tìm cách kích hoạt và phát huy tiềm năng vốn có của con trẻ mà]

7. Công việc có ý nghĩa (meaningful work): một người không thể dành nhiều thời gian để làm và đi đến thành công với một công việc không có ý nghĩa được. Công việc có ý nghĩa là công việc mà thỏa mãn ba yếu tố “độ phức tạp (complexity), sự độc lập (autonomy) và mối liên hệ giữa nỗ lực và tưởng thường (a clear relationship between effort and reward)”. “Nếu tôi đề nghị bạn lựa chọn giữa một bên là công việc kiến trúc sư với mức lương 75.000 đô la một năm và một bên là làm việc tại nhà giam hàng ngày trong suốt phần đời còn lại của bạn với thù lao 100.000 đô la một năm, bạn sẽ chọn cái nào? Tôi đoán là lựa chọn đầu tiên, bởi nó có cả độ phức tạp, sự độc lập và mối liên hệ giữa nỗ lực và tưởng thưởng trong việc thực hiện những công việc mang tính sáng tạo, và đó là điều đánh giá hơn cả tiền bạc đối với hầu hết chúng ta.”

8. Thước đo Hofstede (hay Lý thuyết văn hóa đa chiều – cultural dimensions theory – của nhà tâm lý xã hội người Hà Lan Geert Hofstede): sau khi đọc khái niệm này thì mình search thông tin về nó. Theo wikipedia, mô hình Hofstede miêu tả sự ảnh hưởng của văn hóa xã hội lên các thành viên trong xã hội và làm thế nào mà các giá trị này liên quan đến hành vi của họ. Có sáu khía cạnh cần phân tích của các giá trị văn hóa (trong đó hai khía cạnh cuối được phát hiện sau, trong một nghiên cứu khác chứ không cùng một nghiên cứu với bốn khía cạnh đầu tiên):

+ chủ nghĩa cá nhân – chủ nghĩa tập thể (individualism – collectivism);

+ mức độ e ngại/ né tránh rủi ro (uncertainty avoidance);

+ khoảng cách quyền lực (power distance)

định hướng công việc – định hướng cá nhân (masculinity – femininity)

+ khuynh hướng dài hạn – khuynh hướng ngắn hạn (Long-term orientation (monomentalism) vs. short-term orientation (flexhuminity))

+ sự thoải mái – sự kiểm soát, gò bó (Indulgence vs. restraint)

Để tìm hiểu thêm về những khái niệm, ý nghĩa của những khía cạnh này thì bạn có thể xem thêm. Bên cạnh đó, trên trang web của Geert còn có một dimension map cho từng khía cạnh khá hay, nó giúp ta có cái nhìn tổng quan hơn về sự khác nhau ở từng khía cạnh giá trị văn hóa giữa các quốc gia trên thế giới.

Còn trong quyển Những kẻ xuất chúng này thì tác giả đề cập đến 3 khía cạnh đầu tiên, trong đó mình rất ấn tượng với việc tác giả nói về những vụ tai nạn hàng không và sau đó chỉ ra rằng khía cạnh “khoảng cách quyền lực” (power distance) cũng là một yếu tố có thể giải thích cho việc vì sao trong khoảng cuối những năm 1990, hãng hàng không Korean Air lại có nhiều vụ rơi máy bay thế và việc họ thay đổi trong đào tạo nhân viên đã giúp thay đổi cục diện xấu này ra sao.

(Khái niệm “khoảng cách quyền lực” cũng giúp mình hiểu vì sao ngôn ngữ Việt Nam lại có nhiều phân chia ngôi thứ như thế (anh, chị, cô, dì, chú, bác,…) trong khi tiếng Anh thì chỉ cần ngôi “I – you” là xong, hay trong tiếng Hàn Quốc cũng có những cách nói khác nhau để thể hiện sự tôn trọng vai vế khác nhau, đó là bởi những nước này có khoảng cách quyền lực lớn.)

9. Thời gian học tập: Có một điều thú vị mà mình thấy khi đọc chương “Thỏa thuận của Marita” – chương nói về văn minh lúa nước và việc giỏi toán và về việc dậy sớm, học nhiều – đó là: trong khi ở Việt Nam giờ đang tính đến các phương án giảm giờ học cho trẻ vì thấy trẻ phải học nhiều quá, mùa hè được nghỉ hè ít quá thì trong quyển sách này tác giả lại đang nhìn đó như là những điểm “hay” của dân châu Á nên vì thế mà thành tích học tập của họ tốt hơn các nước khác. “Xem xét trên quan điểm này (học sinh đến trường quanh năm suốt tháng), bạn sẽ thấy những nguyên cớ dẫn tới vị thế ưu việt trong môn Toán của châu Á trở nên sáng rõ. Học sinh trong các trường học châu Á không có những kỳ nghỉ hè dài hơi. Tại sao lại thế? Những nền văn hóa vốn vẫn tin tưởng rằng, con đường duy nhất dẫn tới thành công là việc cần mẫn thức dậy trước bình minh 360 ngày một năm, hầu như sẽ không đời nào phóng tay cho lũ trẻ tới ba tháng nghỉ ngơi mùa hè. Một năm học ở nước Mỹ, tính trung bình kéo dài 180 ngày. Năm học ở Hàn Quốc là 220 ngày. Năm học ở Nhật Bản là 243 ngày.”

Đúng là về thành tích học tập (ví dụ như Toán, Đọc hiểu) thì học sinh châu Á có kết quả tốt thật nhưng cá nhân mình thì thấy rằng học sinh châu Âu và Mỹ được đào tạo kỹ năng sống và kỹ năng mềm tốt hơn rất nhiều. Toán, Đọc hiểu là kiến thức, còn những kỹ năng này chính là trí thông minh thực tiễn (như tác giả có đề cập đến trước đó, mà đây lại là yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công nhiều hơn, nên điều này có thể giải thích vì sao từ trước đến giờ có nhiều người châu Âu và Mỹ thành công hơn).

Tóm lại về quyển sách, “tất cả những gì chúng ta tiếp nhận trong cuốn “Những kẻ xuất chúng” này nói lên rằng thành công luôn tuân theo một chiều hướng có thể dự đoán. Không phải cứ là người xuất sắc nhất mới thành công. Nếu như thế Chris Langan đã ngang hàng với Einstein rồi. Cũng không phải thành công chỉ đơn giản là tổng cộng của những quyết định nỗ lực mà chúng ta thực hiện nhân danh bản thân mình. Thành công đúng hơn là một món quà. Kẻ xuất chúng là những người được ban tặng các cơ hội – và họ có đủ cả nỗ lực cũng như năng lực trí não để nắm bắt lấy cơ may ấy.” 

 

This entry was posted in .

You may also like...

Your email will not be published. Name and Email fields are required